copy of tmddesign old multiply blog

Pageviews

Sunday, October 25, 2009

bài thứ hai và hết, hành trình của những người VN đi tìm mộ người thân, tu sửa, ghi tên lại cho những người bất hạnh nằm xuống nơi xứ người trên đường đi tìm tự do.

.
.


.
bài thứ hai tiếp theo bài trước của Carina Oanh Hoàng dưới đây:
.
Vào đây nhìn hình và tên của những ngôi mộ nằm ở lại Kuku và letung:
www.carinahoang.com
.




Tường thuật về chuyến đi tìm mộ người thân ở Nam Dương. 22/9 – 30/9/2009
.
tiếp theo ...

.

Ngày thứ năm – đi xây mộ
.
Lại đúng 4 giờ, cái loa phát thanh đánh thức chúng tôi dậy. Lục đục mãi rồi cũng kéo nhau đi uống cà phê, ăn mì gói. Công việc đã được phân chia, T & D ở lại Letung lo xây mộ cho Cha và em gái, và thêm phận sự sơn tên của bia tìm được. Số người còn lại đi Kuku, và cũng không thiếu hai anh cảnh sát và quân đội vác súng đi theo.

Yadi và nhóm người dọn rừng và xây mộ đã chờ chúng tôi ở bãi biển Kuku. Đến nơi, phân việc xong, nhóm của Yadi thì đi về phía sân bay để dọn nghĩa trang và xây mộ của cô Tuyết, chúng tôi thì đi lo cho mộ của Ba của M. M nhờ Alex giải thích với hai người lính đi theo là vì khoảng đất thì khá rộng, mà bia thì bị ngã, nên M cần đào khu đất này để xem thi hài của Ba nằm ở đâu để xây mộ cho đúng chỗ. Họ đồng ý cho M đào và họ đều ở đó quan sát.

Mấy chị em chúng tôi thắp đèn, đốt nhang cầu nguyện Bác chỉ cho biết chỗ nào để đào. Ba người Indo thay nhau đào, mất mấy tiếng đồng hồ, đến gảy cả cuốc, thì bắt đầu thấy có quần áo. M và R nhận ra trang phục mà Ba đã mặc khi chôn. Quần tây đen, áo sơ mi trắng, nón nylon màu xanh, và cả gối kê đầu gói trong túi nylon còn nguyên vẹn, ngay cả cái hôp quẹt cũng còn trong túi áo. Nhưng lạ lùng là không có một dấu vết gì của thi hài. Đây là ngôi mộ thứ hai mà chúng tôi đã chứng kiến như vậy, không biết có phải là địa chất ở đó đã hoàn toàn phân hũy hài cốt hay không?
.
Trong lúc đào mộ thì tôi và S cùng một người bạn Indo đi sơn bia của những ngôi mộ chung quanh. Đây là ý kiến của M, T và R. Từ Sydney các bạn này đem theo rất là đầy đủ dụng cụ, nào là sơn, bút lông, cọ, và kể cả bao tay. S "xí phần‟ trước, "để S sơn mấy tấm bia của người Việt, còn của người Hoa, ai biết chữ thì sơn dùm, S sợ viết sai tên lắm‟. Coi vậy mà S nhát hơn người Indonesia, Anh habour master chẳng biết chữ Việt Nam mà cũng đi sơn mộ bia như ai.....
.
z-oanh-kuku-ra.jpg picture by tddesign
Donald, Habour Master - Letung


Tuy không có hài cốt, nhưng M, T và R yên tâm là đã tìm được mộ phần của Ba. Các bạn quyết định lắp mộ và dựng bia lại vị trí cũ. Sau khi cúng cho Ba của M xong, chuẩn bị xuống núi thì chúng tôi thấy có một con bướm trắng bay ngang qua chúng tôi và hướng ra biển. Có lẽ đó là dấu hiệu của Bác trai đi theo các con để về với Bác gái.

z-oanh-kuku-r.jpg picture by tddesign

Chúng tôi đi xuống ngôi mộ của Má của David và mà một số mồ mã chung quanh để cúng, sau đó xuống bải biển nghĩ mệt. Lúc đó đã quá nữa ngày, chúng tôi ăn vội vã một tí mì xào, rồi lên khu mộ của cô Tuyết. Tôi nghiệp Alex, không mấy trẻ (ngoài 50), thân hình thì mỏng như chiếc lá, chân mang dép da mà băng rừng băng suối theo chúng tôi từng bước.

Mộ của cô Tuyết đã xây gần xong, trong lúc M và Alex đặt tấm bia vào xi măng, mọi người lại tiếp tục tìm kiếm mồ mã và sơn phết lại. Trước khi chiều xuống, chúng tôi làm lễ cúng cho cô Tuyết và những hương hồn ở chung quanh rồi từ giả Kuku.

.
z-oanh-cotuyet-8.jpg picture by tddesign
Mộ của cô Tuyết (before) Mộ của cô Tuyết (after)
Trên đường về lại Letung, chúng tôi ghé vào đảo Air Raya để cúng cho hương hồn của hàng trăm người tị nạn đã bỏ mình lại nơi xứ người. M, T & R thì rất mãn nguyện, một điều ước mà mấy anh em đeo đuổi 30 năm mới đạt được. Còn tôi thì hôm nay cũng lên núi xuống núi mấy lần nhưng không thấy mệt như hôm qua, có lẽ vì đã hoàn tất được 2 phần 3 đoạn đường nên trong lòng nhẹ hẳn.
.
z-oanh-9.jpg picture by tddesign

Tạm biệt Kuku
Cũng như hôm trước, T & D ra đứng ở cầu tàu trông ngóng mọi người. Hai nhóm trao đổi thành quả với nhau. Mộ của Cha và em gái đã xây gần xong, nghĩa trang thì dọn được một phần, và sơn được 5 tấm bia. Còn một việc cần làm nữa là lo trái cây để cúng cho ngày hôm sau.

Tắm rữa, ăn cơm tối xong, chúng tôi được mời đến nhà của ông Iwan để ăn bánh, uống trà. Iwan là một người Indo biết nói tiếng Việt Nam, Ông từng làm việc tại Kuku từ năm 1983 đến 1986. Iwan nói với chúng tôi là "vì Trời xuôi khiến nên chúng mình quen nhau.."

 Ngày thứ sáu – làm lễ cúng tại nghĩa trang ở Letung


Chúng tôi lên nghĩa trang ở Letung thật sớm vì ở đây nắng rất gắt, mà lại không có bóng mát như trong rừng Kuku. Hai ngôi mộ xây gần xong, đang được sơn phết lại. Chung quanh cây cối chặt xuống nằm ngỗn ngang, Alex tìm dùm một nhóm người đến phụ dời cây cối để dọn sạch nghĩa trang và để tìm thêm mộ. Mấy giờ sau, chúng tôi tìm được gần 20 ngôi mộ, đa số là những người đã mất vì tai nạn lật tàu trên đường từ Air Raya đến Letung vào ngày 30 tháng 5 năm 1979.
.
z-oanh-10.jpg picture by tddesign
Nghĩa trang ở Letung (before) Nghĩa trang ở Letung (after)


Sau khi làm lễ cúng cho gia đình của T & D và cho những hương hồn chung quanh, chúng tôi từ giã nghĩa trang. T và D rất vui khi nhìn thấy 2 con bươm bướm tung tăng bay theo mọi người xuống núi. T kể cho chúng tôi nghe là Ba và em gái rất linh thiêng, lúc còn ở Air Raya, sau khi họ mất rồi, tối nào cũng có 2 con bươm bướm bay đến lều của họ, và sáng lại bay đi.

Trưa hôm ấy, chúng tôi được dân làng mời ra bãi biển cát trắng để picnic và nghe nhạc sống. Có mấy chiếc xe Honda, họ chia nhau chở chúng tôi ra bãi biển. Chúng tôi được ăn cá nướng với nước mắm ớt và canh rau muống, làm mọi người đều nhắc đến quê nhà. Mỗi năm vào dịp lễ lớn của Hồi Giáo, dân làng dựng sân khấu và trình diễn nhạc sống, chúng tôi một lần nữa lại được "ăn ké".

 z-oanh-10b.jpg picture by tddesign

Đêm cuối cùng ở Letung, gần như là đêm không ngủ. Cả nhóm chúng tôi cùng với một nhóm người Indo ra ngồi ở cầu tàu, với 2 cây đàn guitar, một két bia và một thùng bánh phồng tôm, mọi người hát hò, kể chuyện, ngắm trăng, dạy cho nhau hát nhạc Indo, và chia sẻ những mẫu chuyện vui buồn đến gần sáng. Lúc đó chúng tôi mới phát hiện tài năng của Alex, Anh vừa đàn vừa hát rất là nghệ sĩ.

Ngày thứ bảy – từ giả Letung, Kuku & Air Raya

Những người bạn mới quen của chúng tôi ra cầu tàu tiễn chúng tôi thật là cảm động. Hôm đó thời tiết bắt đầu thay đổi, biển động nhiều, sợ say sóng, nên không ai dám ăn uống gì. Iwan gởi cho mấy củ gừng để chúng tôi ngậm cho đỡ buồn nôn.
Trên đường đến Terampa, chúng tôi ghé vào Keramus để cúng cho hương hồn của gần 50 người tị nạn. Tại đây tôi và S nhận ra vĩa hè của một ngôi nhà bỏ hoang mà 30 năm trước khi đặt chân đến đất liền, mấy chị em đã ngủ tạm mấy đêm.
.
z-oanh-keramus.jpg picture by tddesign
Chỗ ngủ của 3 chị em và hai gia đình tị nạn 30 năm về trước

Về đến Terampa, Alex đưa chúng tôi đến ở một resort trên hòn đảo nhỏ bên cạnh, phong cảnh chung quanh thật đẹp và bình yên, làm chúng tôi cảm thấy như đang được đi du lịch. Bửa cơm trưa ở đây là bửa ăn thịnh soạn nhất trong suốt chuyến đi, ăn xong, ai nấy đều đánh một giấc "ngủ bù‟.

Xế chiều, Alex cho tàu đến đón chúng tôi qua Terampa, ở đây, chúng tôi mướn Honda ôm đi lên núi, nơi có một vài ngôi mộ của người tị nạn để làm lễ cúng. Theo lời của ông Adnan, có đến gần 500 người tị nạn chết trên đảo này.

Trước khi về resort tôi và Alex đi đến nhà ông Chief của Letung. Ông cho biết là chính phủ Indo rất hoan ngênh người Việt Nam trở lại, tuy nhiên, hiện nay họ không cho phép chúng ta dời hài cốt, một phần là do phong tục của họ, và một phần là họ muốn nhiều người đến thăm. Tôi giải thích với Ông về phong tục cũng như nguyện vọng của người Việt Nam chúng ta khi trở lại những nơi này để mang hài cốt người thân về ở bên cạnh gia đình. Tôi phân tích với Ông ta rằng Letung, Kuku chưa phải là địa điểm du lịch, phương tiện di chuyển rất khó khăn, ngay cả nhà trọ cũng không đủ cho một nhóm người đến thăm. Họ có giữ lại những ngôi mộ này để khuyến khích người thân trở lại, thì gia đình cũng chỉ đến xây mộ rồi đi, không thể trở lại hoài. Trước khi ra về, tôi nhờ Ông chuyển những lời của tôi đến nghững người có thẩm quyền, và mong rằng họ thay đổi luật lệ này.
.
Tối hôm đó, nhóm chúng tôi quây quần đến khuya bàn bạc về những ngôi mộ tìm thấy tại Letung và Kuku. Mọi người góp ý để làm sao gởi thông tin này đến càng nhiều người Việt Nam Hải Ngoại càng tốt.
Với khả năng của mình, việc mà tôi có thể thực hiện được là đăng hình ảnh của những ngôi mộ này lên trang web, rồi gởi email đến bạn bè nhờ họ chuyển tin tức đi cho nhau. M và S đều nói với tôi là khi Chị đưa tin lên chắc thế nào cũng có người muốn đi tìm mộ người thân, nếu Chị sắp xếp thì tụi Em sẽ đi theo phụ. Nghe xong tôi rất cảm động và cũng cảm thấy được khuyến khích.

Ngày thứ tám – trở lại Tanjung Pinang
.
z-oanh-terampa-11.jpg picture by tddesign
Nhìn lại Terampa

Vì thời tiết, máy bay đi Matak bị trễ gần hai tiếng. Thật may mắn là lúc đi từ T.P đến Matak, không bị hũy chuyến bay. Trước khi đi, Alex và tôi rất lo lắng về điều này, nếu mà hụt chuyến bay thì sẽ phí hết mấy ngày, sợ không đủ thời gian để đi tìm mộ, mà ngày về thì ai cũng phải sắp đặt trước không dời được.
Trước khi qua Singapore, ngày nào biết tin có chuyến bay bị hũy, Alex đều nhắn tin cho tôi và luôn luôn nói là "xin lỗi Carina, tôi chỉ biết cầu nguyện thôi!‟ Tối hôm đó, chúng tôi đưa nhau đi „ăn mừng‟ và cũng để từ giã nhau, để rồi hôm sau, mạnh ai nấy đi về lại với gia đình của mình.
Chúng tôi đã có một buổi tối ngồi lại với nhau trong bầu không khí thật chân tình, thật gần gũi. Đúng là trước lạ sau quen, Trong một tuần lễ, chúng tôi đã trở thành một gia đình nhỏ, chia xẽ với nhau thật nhiều kỹ niệm, trong một bối cảnh đặc biệt, và đầy ắp tình người.
.
 Ngày thứ chín – trở lại Singapore
.

Lần này thì vì trục trặc kỹ thuật, chuyến tàu bị hũy, phải đợi chuyến khác. Trong lúc chờ đợi, vì thẻ điện thoại chưa xử dụng hết, nên chúng tôi gọi cho gia đình và bạn bè ở khắp nơi để báo tin vui. Gọi về Mỹ, về Úc, về Việt Nam, nói hết chuyện mà vẫn chưa hết tiền....
.
Lên tàu, M gọi về cho Má để báo tin. Trước khi đi M không cho Má hay, vì lần trước đi không thành công, Má rất thất vọng. Trên điện thoại, Má kể với M là hai hôm trước Bà nằm mơ thấy Ba của M về nhà, Ông mặc quần tây màu đen, thấy quần dơ bẫn, Bà nói Ông thay ra để Bà đi giặt.... Nghe M kể lại, mọi người đều rùng mình trước sự linh thiêng của Bác trai.

Ngồi trên tàu, tôi ôn lại diễn biến của cuộc hành trình, khi nhớ lại cảnh leo lên rừng mà thấy thương cho S. Lúc ở Kuku 30 năm trước, sau khi ba chị em thoát khỏi cơn bệnh sốt rét và tiêu chảy, người chỉ còn có da bọc xương, mà hằng ngày S phải đi vào rừng kiếm củi cho mấy chị em nấu cơm. Còn Trang, bé xíu mà phải nấu cơm, rửa chén, giặt đồ, vì lúc mới lên trại, hai bàn tay của tôi bị ghẽ không thấm nước được. Bao nhiêu hình ảnh ngày xưa tiếp tục quay lại trong trí nhớ như là tôi đang xem phim.

Nhìn thấy bến tàu Singapore, mọi người bắt đầu nói lời từ giã với nhau, những cái xiếc tay thật chặt, những lời cám ơn nhau thật chân thành, và trên đường về, cộng với hành lý là một khối kỹ niệm khó quên.

z-oanh-12.jpg picture by tddesign

.
Carina Oanh Hoang
Australia_ 25/10/2009
.
by carinaoanhhoang
.
PS by tmd: trich từ PDF file của Carina, nên chữ viết khi đi vào đây, font size và type có phần thay đổi, không đồng nhất. Cắt xén, lấy hình và chữ từ PDF file ra, chỉ được tới như vậy. Xin thông cảm.
.
Lời bàn của tmd:
Chính quyền ở địa phương Nam Dương từ chối cho bốc hài cốt của người tị nạn VN nằm đây về đoàn tụ với thân nhân, đó là do lòng tham lợi lộc nhỏ của họ. Nghĩ rằng, làm như vậy sẽ có nhiều người phải trở lại, đến đây thăm viếng nhiều lần, đổ tiền vào cho địa phương. Nhưng điều đó không đúng, người thân chỉ đến được một vài lần rồi thôi.
Chúng ta có thể làm áp lực bằng cách liên lạc với dân biểu, thượng nghị sĩ nơi sinh sống, đứng trên cương vị quốc gia, thỉnh nguyện đến Tổng Thống, chính quyển trung ương Indonesia. Nước này nhận viện trợ từ Mỹ, Úc, các quốc gia Tây Phương trên một vài lãnh vực nào đó, nên đòi hỏi họ cho phép bốc hài cốt người tị nạn VN về với thân nhân, đó là điều dễ được thông cảm. Đây chỉ là hành động của địa phương. Chúng ta có thể dùng cách này, dùng chính quyền nơi chúng ta sinh sống, và chính chúng ta yêu cầu Tổng Thống xứ Nam Dương giải quyết. Chắc họ không cần những lợi lộc quá nhỏ mọn từ địa phương.
Đối xử lại, chúng ta sẽ ghi bia tưởng niệm chung tại mỗi nghĩa trang, coi như đánh dấu địa điểm du lịch, có chứng tích của người VN tị nạn CS, từng đạt chân.
Nhờ những loạt bài của chúng ta, mà những địa danh như letung, Kuku, Terampa, mới thực sự được thế giới biết đến. Cứ nhắn vơí chính quyền địa phương, cứ thử dùng Google, lám cái search coi, thì sẽ thấy những bài viết của chúng ta, có nhiều nhất, đang nói về những địa danh của họ.

Ngoài ra, lần tới, nên mang theo một cái GPS, để ghi lại vị trí của từng vùng, khu có nhiều mộ người tị nạn VN, sau này nếu có bị thất lạc, cây cối che phủ, thì vẫn có vị trí, sẽ được dễ dàng xác định bằng GPS. Định vị trí toạ độ, ghi giữ lạl
.
by duongtiden . carinahoang . letung . kuku . terampa . keramus . air raya . boat people . thuyen nhan
.

Sơ đồ hành trình của những người VN đi sưởi ấm những ngôi mộ người thân và mộ những người VN khác, nằm lại ngoài đảo vắng xứ Nam Duơng.

.
.
Trong lúc chờ tôi đưa phần chót bài tường thuật hành trình của Carina Hoàng về nơi hoang vắng xứ người làm ấm những ngôi mộ, đường tự do không đến, nằm lại nơi xứ người. Tôi mới ghi chú  lại vài cái bản đồ to nhỏ, về hành trình vừa rồi của những người con đi tìm cha, tìm em, người VN đi tìm đồng hương, bất hạnh, phải nằm lại trên xứ người....
.
z-td-477-taman-01.jpg picture by tddesign
.
Bản đồ tổng quát bên trên là hành trình vượt biển của tôi đi tháng bẩy năm 1977, của loạt hồi ký trong đây. Cho thấy, khoảng biển trống giữa Tây và Đông Mã Lai Á, lại là hai quần đảo của Nam Dương, phía bắc trên Singapore. Quần đảo Natuna, là nơi tôi đi tới. Và quần đảo Anambas, là nơi Carina Hoàng tới vào năm 1979. Chuyến đi trở lại tháng chín vừa qua, là từ Singapore, đi đò qua Tangjung Pinang của Nam Dương, từ đây bay máy bay đi Terampa, trong quần đảo Anambas.

Bản đồ trên cho thấy có vùng biển chung giữa VN và Nam Dương, cho nên rất nhiều tầu, ghe vượt biển đã đi ngay vào vùng biển này tới vùng Anambas, hay bị xua đuổi đi ra từ Singapore, hay Mã Lai.


z-td-oanh-tripmap.jpg picture by tddesign
.
.
z-td-terampa-airport.jpg picture by tddesign
.
.
z-oanh-anambas-map-1.jpg picture by tddesign
.
Đọc bài trước của Carina, rồi tham khảo những chi tiết và địa danh với những sơ đồ trong đây.
.

z-kuku-ddt-map.jpg picture by tddesign
..
sơ đồ vẽ lại do Đặng đình Thành KT77 ghi lại ngày 26 tháng 7 năm 1989, trong đó vẫn còn đến 7 mộ không co tên. Nhờ sơ đồ này mà mộ của cô Hoàng thị Tuyết được thân nhân nhận ra tên, nhờ Carina xây lại và gắn lên tấm bia đầu tiên, hơn 20 năm sau.
.
z-kuku-place.jpg picture by tddesign
.
rừng núi chập chùng bên bãi biển Kuku
.

.
by duongtiden
.


.

Saturday, October 24, 2009

Chuyến đi tìm mộ người thân, nằm lại trên nửa đường tìm tự do, mộ những người VN nằm lại ngoài đảo khơi xứ Nam Dương . bài một của Carina Oanh Hoàng

.

.
Hình trên: Carina đang thắp hương trước mộ của chị Hoàng thị Tuyết, được phát cỏ, chặt cây tìm ra vị trí do phác họa ghi lại tại chỗ bởi Đặng đình Thành KT77, vừa được xây lại và gắn bia mới. Chị Tuyết đã ra đi vượt biển một mình, nằm lại tại đây năm 1989. Lúc đó có mặt Thành ở đó. 20 năm sau, như một định mệnh, cho dù là đã khuất bóng, vong hồn chị vẫn còn có định mệnh hướng dẫn mọi người chăng, không ngờ một ngày còn có người không thân thuộc bỏ công sức giúp gia đình chị Tuyết, dọn dẹp tu sửa nơi an nghỉ của chị, một trong những người VN bất hạnh ngã gục trên nửa đường tìm tự do.



.
Lời tựa của tmd:
Tôi biết được Carina Hoàng, hay là Oanh, hơn tháng trước đây khi tìm tài liệu viết tiếp hồi ký lúc đến Tangjung Pinang năm 1977. Carina và hai người em nhỏ vượt biển năm 1979, đến vùng quần đảo Anambas, đảo Jemajah, lang thang từ nhiều địa điểm, Letung, Air Bari, cho tới một địa danh xa lạ khác, ngay cả với người Nam Dương. Một nơi hoang dã tên là KUKU. Lên bờ với hai bàn tay nhỏ bé của cô bé mới 16 tuổi, ở cái tuổi, ngậm ô mai, mơ mộng bên khung cửa trường học, nhưng không , hai bàn tay bé nhỏ đó, dẫn dắt hai người em nhỏ, như một bà mẹ tuổi mười mấy. Ôm nhau sống qua ngày giữa mưa trời sương gió, một bên bãi cát, một bên rừng núi rậm hoang vu.
Vậy mà đã ba mươi năm hơn. Năm 1998, Carina trở về vùng biển này lần đầu tiên, lên những rừng cây hoang dã ở Terampa, đi tìm xác người anh Họ, đã nằm xuống trong hành trình vượt biển khác, đưa được hài cốt về với gia đình. Từ đó Carina tiếp tục lòng mong ước làm được gì đó cho bao nhiêu người VN khác, bất hạnh còn đang nằm lại nơi hoang đảo quê người. Tháng tư vừa rồi Carina đã hướng dẫn nhiều gia đình trở lại nơi này, tìm ra lại mộ thân nhân.
Tháng chín vừa rồi, Carina, lại hướng dẫn thêm một nhóm bạn bè, người VN khác từ Mỹ, từ Úc trở lại đây làm tiếp công việc mà người ngoài, có người không hiểu tại sau Carina lại có thể bỏ công sức của mình cho những người không thân thuộc như vậy. Ở đây đều là người VN, người VN được may mắn hơn giúp đỡ những người VN bất hạnh phải nằm lại nơi quê người hoang lạnh, trên ba mươi năm, những người bất hạnh gục ngã nửa đường không thấy tự do. Còn bao nhiêu người VN nữa bất hạnh bỏ xác trên biển cả, không ai hay biết, thân xác còn không được một nấm mồ ... nén nhang, không ai còn biết đến.
Xin đọc bài về chuyến đi vừa rồi của Carina về nơi hoang dã này, làm ấm lòng lại những nấm mồ hoang khác, đều là người VN, chọn cái chết hơn là phải sống trong thiên đường CS.
...
Ghi chú, nơi đó là quần đảo Anambas, đảo Jemajah (Jemaja). Letung, Terampa, Air Biru, Kuku .. là những địa danh, làng xã, thôn nhỏ, thị trấn, chứ không phải là những đảo nhỏ riêng biệt rời nhau. So sánh với VN, thì giống như đảo lớn Phú Quốc có thị trấn Dương Đông ở phía bắc, có An Thới  ở phiá nam, An Thới và Dương Đông tự nó không phải là đảo.
.
z-kukumap.jpg picture by tddesign
.
.

Tôi sẽ có bài riêng viết về vùng quần đảo này cho các bạn thích địa dư, nơi đây có biên giới thẳng với VN về hướng bắc, nằm giữa Tây Mã lai, và Đông Mã lai trên đảo Borneo.
...
z-oanh-H-grave-1a.jpg picture by tddesign
.
Hình Carina trên tờ báo địa phương West Australia
.

Xin cám ơn Carina đã gửi đến bài này, xin gỡ nón chào người con gái bé nhỏ ngày nào ba mươi năm trước, nhưng tấm lòng thành không nhỏ, con tim rất lớn đầy tình thương cho những oan hồn người VN bất hạnh khác đang vẫn còn nằm lạnh lẽo nơi hoang đảo, ngàn dặm xa gia đình. Em là người đang đi nối lại tình thương cho nhiều gia đình VN. Xin cám ơn.
.

.
.
bài của Carina Oanh Hoàng dưới đây:
ghi chú Carina gửi bản sửa chữa thứ hai đến.
. 


Tường thuật về hành trình đi tìm mộ người thân ở Nam Dương. 22/9 – 30/9/2009
.
Khởi đầu của cuộc hành trình


.

Tháng năm vừa qua, khi từ Kuku trở về, da còn chưa nhả nắng, tôi nhận được 3 email từ Nhật bản và California của 3 gia đình hỏi thăm cách đi Kuku để tìm mộ của người thân. Website của tôi có ít người biết đến vậy mà trong vòng 2 tuần lễ có 3 gia đình tình cờ nhìn thấy khi tìm thông tin về Kuku trên internet.
Một điều hy hữu là tôi đã nhìn thấy và còn có cả hình và chi tiết của 2 ngôi mộ mà những gia đình này muốn đi tìm. Tôi kể cho chồng nghe, Anh nói với tôi rằng: "It meant to be, just do what you have to do". Tôi rất xúc động tước sự thông cảm và rộng lượng của chồng mình. Tôi bắt đầu tìm hiểu về thời tiết, liên lạc những người quen ở Indonesia nhờ họ giúp đỡ.
Thật may mắn là Alex nhận lời giúp tôi, mặc dù Anh chưa biết phải làm gì. Alex là người Nam Dương nói tiếng Anh rất giỏi, năm 1998, khi tôi đến Terampa để tìm mộ của người anh họ. Alex ra ngồi ở quán cà phê trò chuyện và cho biết là Alex còn nhớ đêm mà anh của tôi qua đời, và từ đó Alex đã giúp tôi đi tìm những cụ già ở Terampa biết chỗ người tị nạn được chôn cất. Nhờ Alex giúp đỡ nên chuyến đi vừa rồi được tốt đẹp. Alex là một người có thân hình nhỏ bé gầy gò nhưng với tấm lòng thương người rất bao la.
.
z-oanh-p1r.jpg picture by tddesign
.
 Alex đưa tôi đi thăm mộ người VN (tháng 4/2009)

Chuẩn bị cho cuộc hành trình
.

Lúc đầu tôi liên lạc với Alex qua điện thoại, sau đó qua máy fax, chồng của tôi đến văn phòng của Anh để gởi fax đi, tôi nhắn tin qua SMS, Alex đi đến nhà của người Anh vợ để nhận fax. Thế là cứ ăn cơm tối xong là chồng của tôi và Anh vợ của Alex "đi phát thơ bất đắc dĩ". Alex nhờ bạn sắp đặt chỗ ở và vận chuyển tại Tanjung Pinang, nhờ người Anh ở Terampa lo mướn tàu, nhờ người Cháu lo vé máy bay, và Alex thì đi qua Letung để sắp đặt chỗ ở và liên lạc với chính quyền. Khi tạm ổn rồi, tôi bắt đầu báo cho những gia đình này biết là tôi sẽ giúp họ đi vào cuối tháng 9. Và cuộc hành trình bắt đầu thành hình.
.
Mọi việc đang tiến triển thì tôi nhận được điện thoại của Alex gọi từ Letung, báo tin là chính quyền ở đó không cho phép người VN đến bốc mộ. Lúc đó tôi đang đi công tác ở Sydney, máy bay vừa hạ cánh, tôi vội vàng gọi điện thoại cho ông Adnan, chính Ông cũng ngạc nhiên về thông tin này. Ông Adnan nói chuyện với chief của Letung và cho tôi biết rằng, quyết định này, tuy chưa chính thức, nhưng rất khó thay đổi, vì nhiều cơ quan khác nhau góp ý, đăc biệt là bên nghành du lịch. Ông xin lỗi là vì chưa chính thức nhiệm chức nên Ông không giúp gì được cho chúng tôi. Đến lúc này tôi phải báo cho những gia đình này biết, và khuyên họ làm sẵn một tấm bia, mang theo để nếu xin dời hài cốt không được thì có thể xây lại mộ cho người thân. Vài tuần sau lại gặp trỡ ngại về việc mướn tàu, Alex báo tin là tàu bị trục trặc, nếu không mướn được tàu khác thì phải mua máy mới. Sau đó đến vé máy bay cũng làm tôi và Alex lên ruột cả tuần lễ, vì chúng tôi đi nhằm dịp lễ lớn của người đạo Hồi, nên nhiều người về thăm gia đình, máy bay thì ít chỗ, nhóm của mình đã chiếm hơn 1/3 chỗ ngồi. Đặt mua vé sớm thì họ chưa bán, mà đợi thì sợ hết vé. Tội nghiệp cháu của Alex cứ phải đi „canh me‟ để mua vé máy bay. Cuối cùng thì phhương tiện vận chuyển và nhang, đèn, vv. Alex đã lo xong. Tôi lo đặt khách sạn ở Singapore, M & T lo đặt vé phà đi từ Singapore đến Tanjung Pinang. Các bạn trong nhóm cũng chuẩn bị đầy đủ thuốc men, chích ngừa, mua bảo hiểm, vv. rồi chờ ngày lên đường. Con gái của tôi thấy Má sắp xếp vali, đi theo xin "Má cho con đi Kuku với, con thích camping lắm..." Chuyến bay của tôi là 3 giờ trưa ngày 22, sáng ngày 21, người bạn từ Adelaide điện thoại báo tin là có người nhà vừa mất vì tai nạn, nên phai hũy chuyến đi này. Tôi đề nghị Anh ấy gởi gấp tấm bia cho tôi, và tôi sẽ thay thế Anh ta đi tìm mộ của Mẹ. 11 giờ sáng hôm sau tấm bia đến kịp lúc cho tôi mang đi.
Cuộc hành trình bắt đầu
.

Người khởi hành trước tiên là Alan, bạn của tôi từ Ý mới dọn sang Perth, tình nguyện đi theo để chụp hình và quay phim cho cuộc hành trình, kế đến là hai anh em T và D từ California đi tìm mộ của Cha và em gái, sau đó là 3 anh em M, T, R từ Sydney đi tìm mộ của Cha (đi lần thứ hai), đến tôi đi từ Perth tìm mộ của Mẹ của một người từ, và sau cùng là S em trai của tôi đến từ California, người đã vượt biên với tôi đến Kuku 30 năm trước.
.
 Ngày thứ nhất
.

Mọi người đến Singapore, tự động về khách sạn đã được sắp đặt trước. 11 giờ 30 tối khi tôi về đến ks, chúng tôi họp mặt tại lobby để gặp gỡ nhau và thông báo cho chương trình ngày hôm sau. Sau đó rũ nhau đến phòng của M & T để ăn bánh trung thu.
 

Ngày thứ nhì
Ăn sáng xong, mọi người gồng gánh hành lý ra bến tàu để lấy phà đi Tanjung Pinang. Đi mất khoảng 3 tiếng. Đến nơi, xin visa, làm thủ tục nhập cảnh, vv. Tại đây có anh Alex đón chúng tôi.


z-oanh-p3v.jpg picture by tddesign
Bến phà Tanjung Pinang


Cho hành lý vào KS xong, mọi người đi ăn đồ biển nướng ở „chợ đêm‟. Ngày chúng tôi đến là ngày đầu tiên sau một tuần ăn chay của người đạo Hồi, nên tối hôm đó dân chúng đi ăn „bù‟, thế là nhóm của mình đi theo ăn ké.....
Ngày thứ ba – bắt đầu „ra khơi‟

.

Trước khi khăn gói lên đường ra sân bay đi đến đảo Matak. Vợ chồng của Aidina, (cảnh sát trưởng ở Letung mà chúng tôi gặp trong chuyến đi vào tháng Tư) đến ks cho chúng tôi hai hộp bánh vừa mới làm còn nóng hổi để tiễn chúng tôi lên đường. Aidina bây giờ về làm cảnh sát trưởng ở Natuna. Tại phi trường Matak, ông Adnan Nala đến chia tay với chúng tôi và cáo lỗi không tháp tùng với chúng tôi như đã dự định. Adnan Nala là người mà nghiều người tị nạn Việt Nam biết đến và mang ơn. Gần 20 năm Ông đã gắn bó và tận tâm với hơn 200,000 người tị nạn Việt Nam tại Nam Dương. Ông bắt đầu làm việc với người tị nạn VN từ năm 1975, lúc còn là sinh viên. Sau đó Cao Ủy Tịn Nạn bỗ nhiệm Ông chính thức quản lý tổ chức các trại tị nạn, Adnan là người lập và đóng tất cả các trại tịn nạn ở Nam Dương, đến nay ông vẫn không quên tiếng Việt, Adnan kể với chúng tôi là lần đầu tiên khi gặp người tị nạn Việt Nam, có một cụ già hỏi Ông: "Con tên gì?" và từ đó Adnan đã yêu tiếng Việt Nam. Ông nói với chúng tôi là: "các anh chị đi thăm mồ mả của người thân, thì họ sẽ vui là mình không quên họ". Adnan vừa đắt cử vào quốc hội và sẽ về làm việc tại Terampa, quản lý khu vực Anambas.

z-oanh-p4r.jpg picture by tddesign

Adnan Nala và em của tôi (trở lại Kuku sau 30 năm)
.
Tội nghiệp T (người có trách nhiệm mang theo túi sơ cấp cứu cho cả nhóm) công trình đem mấy chai thuốc xịt chống muỗi, đến phi trường phải bỏ lại vì v/đ an toàn. Điệu này cả nhóm sẽ nộp mạng cho muỗi của rừng Kuku... Bay đến Matak mất hơn 1 tiếng, (máy bay chỉ chở được gần 30 hành khách và mỗi tuần bay 3 chuyến). Từ Matak, có xe chờ sẵn để đưa chúng tôi ra bến đón tàu đi Terampa, đi mất thêm hơn một tiếng nữa. Đến Terampa, mọi người được đi rửa mặt và chuyển nước uống, nhiên liệu và đồ để cúng (nhan, đèn, giấy tiền vàng bạc...) xuống tàu, trong lúc Alex đến ty cảnh sát, đưa cho họ copy passport của cả nhóm và cho họ biết là mình sẽ ở Letung, điều này cần thiết cho an ninh của mọi người.

z-oanh-matak-terampa-2.jpg picture by tddesign

Phi trường Matak Đi Terampa


Từ Terampa đến Letung, tàu nhỏ nên đi mất hơn 3 tiếng, sóng lớn, mọi người sợ say sóng nên không ai ngó ngàng đến thức ăn, mặc dù Alex mang theo cho mỗi người một hộp cơm chiên + gà quay và nước uống. Ối chao ơi, có bạn mang dầu ra bôi, mùi dầu cù là làm tôi nhớ đến lúc đi vượt biên 30 năm về trước... Sau này, một anh bạn trong mới thố lộ rằng: „lúc ngồi trên tàu tui sợ muốn... ướt quần!" Đến Letung, trời sâm sẩm tối, cảnh sát viên và „harbour master‟ ra đón chúng tôi rất thân thiện. Bao nhiêu hành lý, cái thì kéo, cái thì vác, cả nhóm ì ạch đi qua các cầu bằng ván, bánh xe của luggages kêu lộp cộp...

z-oanh-letung-3.jpg picture by tddesign
.

Letung                                                                                                                 Letung

Đến nhà trọ, trong lúc mọi người lo sắp xếp phòng và hành lý. Alex và tôi đi „trình làng‟ nộp copy của passport và chào hỏi những người trong chính quyền ở Letung. Ở đây họ rất vui khi thấy chúng ta trở lại, tuy nhiên„nhắc nhỡ‟ là luật mới của họ không cho phép chúng ta lấy hài cốt đem đi, và yêu cầu chúng tôi tôn trọng điều này. Sau một ngày vượt 4 hòn đảo bằng xe 4 bánh, đến máy bay, đến tàu, và xe 2 chân, mặc cho người hôi hám, mọi người cứ thế mà kéo nhau đi ăn cơm với càri cá một cách rất.... tận tình. Tắm rửa xong, mọi người họp lại để bàn chương trình ngày mai, và lo sắp xếp dụng cụ.

Ngày thứ tư – bắt đầu đi tìm mộ

.
4 giờ sáng là tất cả đều thức giấc vì tiếng đọc kinh vang ra trên các loa gắn khắp nơi trên đảo. Vả lại tâm tư của mọi người đều rất nôn nao, lẫn hồi hộp, chẳng còn buồn ngủ, nên kéo nhau dậy đi uống cà phê. Letung có một nhà trọ và một quán cơm (điểm hẹn). Mỗi ngày 2 buổi chúng tôi đều đến điểm hẹn để bàn bạc và tiếp xúc với người dân làng.
.

Ăn sáng xong, chúng tôi đổ bộ lên núi, theo hướng dẫn của một người Indo đã từng khiêng thi hài của người tị nạn đi chôn. Khi lên đến nơi, trước mắt là vùng đất hoang, cỏ cao gần đến đầu, cây cối um tùm, bên cạnh đó là một nghĩa trang, có những ngôi mộ thật lớn và tươm tất của người bản sứ.
.
Qua thông dịch của Alex, thì trong bãi cỏ mênh mông dày đặt này có mồ mả của người tị nạn. Nghe vậy, chúng tôi bắt đầu chia nhau ra đi vạch lá tìm mộ, chỉ vài phút sau phát hiện ra một cái, rồi 2 cái, tiếng gọi nhau ơi ới:
"T, phải cái này không?" ... "không phải". "D, phải đây không?" ... "không phải". Mấy phút sau, bất chợt D kêu lên "Carina, mộ này của một Ông đi cùng tàu với Ba tui... vậy chắc là ở đâu đây".

Mọi người lên tinh thần, và cũng rất hồi hộp tiếp tục tìm kiếm. Đến lượt T la lên thật to, "em gái tui, em gái tui!" mọi người sững sờ, nhìn T băng băng chạy xuống dưới đồi, vừa đi vừa nói "vậy là Ông già nằm ở phía dưới, tại vì mộ của em tui chôn trước nên nằm ở trên". Và trong khoảnh khoắc, T gọi D "D, mộ Ba đây rồi" ... tât cả đều bàng hoàng vì không ngờ tìm được hai ngôi mộ này nhanh và đơn giản như vậy, đến nỗi tưởng như là không phải sự thật. Chúng tôi ôm nhau mừng rỡ mà không cầm được nước mắt. Đứng trước mộ của Ba, T run rẫy, bấm điện thoại di động gọi về cho Mẹ để báo tin. Ở San Jose gia đình hồi hợp trông tin và lo cho T & D từng phút, từng giờ.
.
z-oanh-letung-4.jpg picture by tddesign
.
Tìm mộ ở Letung


Mặt trời lên cao, chúng tôi vội vã xuống núi chuẩn bị đi Kuku. Một nhóm thì lo mang dụng cụ xuống tàu, tôi, T và D lo đi tìm người dọn dẹp nghĩa trang và xây mộ cho Ba và em gái của T & D. Sau đó T & D ở lại lo việc ở Letung, mấy Chị em tôi đi Kuku, đi mất một tiếng, trên đường đi có ghé Air Biru, một đảo nhỏ bên cạnh Kuku để đón một nhóm người địa phương đi theo giúp chặt cây cối. Và tháp tùng theo có cả cảnh sát, hải quân và harbor master, một mặt là để bảo vệ an toàn cho mọi người và một mặt là để kiểm soát việc làm của chúng tôi ở Kuku.


z-oanh-tp-1.jpg picture by tddesign
Đảo Air Biru

.
Đến nơi, mọi người vác đồ đạc lên vai, lội vô bờ. Bôi kem chống nắng, chống muỗi xong, chúng tôi đi thẳng lên rừng để tìm mộ của Ba của M. Ban đầu, theo trí nhớ của M, mấy chị em chúng tôi băng qua con suối và đi dọc theo suối về phía bên phải, nhưng may thay có một người Indo từ trên núi la vọng xuống, theo Alex dịch lại
"ở trên đây có rất nhiêu mồ mả...". Chúng tôi quay trở lại và theo hướng của Anh ta. Lên đến nơi, hiện ra trước mắt chúng tôi là một khu rừng rậm, cây cối cao ngất, lạnh lẻo và rất ẩm vì không có nhiều ánh mặt trời xuyên qua. Chung quanh có nhiều ngôi mộ và một số còn bia và tên tuổi. Chúng tôi chia nhau đi xem từng ngôi mộ để tìm mộ của Ba của M. Trong lúc tôi và S đang lúi húi chùi một tấm bia thì giật mình khi nghe M kêu thật lớn "chị Oanh, chị Oanh, thấy rồi..." tôi chạy lên gần trên đỉnh núi, lúc đó T, M và R ngồi trên một khoảng đất trống, đang tưới nước lên tấm bia có tên của Ba nằm ngả dưới đất, bên cạnh một cây không to nhưng cao và thẳng đứng.
.
z-oanh-kuk--5.jpg picture by tddesign
.
Tìm mộ ở Kuku
.
Mấy chị em không ai nghĩ rằng sẽ tìm được đúng địa điểm trong ngày đầu tiên, chúng tôi dự trù sẽ dành ra 3 ngày ở Kuku, vì lần trước cả nhóm rất đông người đổ xô đi tìm hết 2 ngày mà không tìm ra. M tâm sự với tôi rằng "trong lòng em lo rằng nếu hôm nay mà không tìm ra mộ của Ba là tụi em sẽ bị mất tinh thần, sợ là mấy ngày tới sẽ khó tìm hơn". Đến lúc này mọi người mới thấm mệt, áo thì ướt đẩm mồ hôi, quần thì ướt sũng khi lội suối, và mình mẫy thì bám bụi và gai. Lúc đó cũng đã nửa ngày, chúng tôi vội vã xuống núi, đến thăm ngôi mộ của Má của David mà chúng tôi tìm được trong chuyến đi trước. Sau đó mọi người đi xuống biển nghĩ mệt, ăn trưa. Nửa tiếng sau chúng tôi lại vác cuốc vác dao leo lên núi để đi tìm mộ của gia đình thứ ba. Mặc dù không phải qua suối và đường lên núi không dầy đặt cây cối như khu rừng phía bên kia nhưng dốc khá cao, khi trèo lên tới bải đáp trực thăng, ai nấy đều gần hết hơi.
.
z-oanh-p8r.jpg picture by tddesign
.
 
Dấu tích còn lại của trại tị nạn đã từng cưu mang 40,000 người là bải đáp trực thăng bằng xi măng, và hai thùng phi đầy cát nằm hai bên thềm trước cổng Chùa. Ngoài ra chỉ là núi đồi, cây cỏ và biển bao quanh. Khu mộ này nằm ngay sau lưng bải đáp, tôi đã học thuộc sơ đồ của khu mộ này do anh Thành Đặng ở Georgia gởi cho qua email. Ngôi mộ mà chúng tôi đi tìm là ngôi mộ của cô Hoàng Thị Tuyết, mang số 7 trên sơ đồ. Trong số 12 ngôi mộ mà anh Thành vẽ được ngày xưa lúc còn có tên tuổi, nay chỉ còn 3 ngôi mộ còn bia. tôi và M dựa theo bản đồ đi lần về hướng ngôi mộ số 7. Cũng may là ngôi mộ kế bên còn tên nên tôi mới xác định được ngôi mộ mình đang tìm, vì tồn tại của ngôi mộ này chỉ chó 3 cục đá nằm chồng lên nhau, chính giữa có một nữa chai thủy tinh, có lẽ là dùng để cắm nhang. Nếu không có bản vẽ này thì chắc là gia đình cô Tuyết sẽ không bao giờ tìm được mộ của Cô ấy, vì khi Cô mất không có một người thân nào bên cạnh, mà bây giờ mộ thì không tên. Theo trong bản vẽ thì bên trái và chếch ra phía sau mộ cô Tuyết vài mét còn có một ngôi mộ nữa, nhưng lúc đó chúng tôi không nhìn thấy gì ngoài cây cối rậm rịt. Tôi nhờ 2 người Indo chặt hết cây ở vị trí đó thì y như rằng, từ trong một đám cây lá chằn chịt, có một cái bia vuông vức ló ra. Lúc đó tôi thực sự cảm thấy yên tâm.
.
z-oanh-kuku-6b.jpg picture by tddesign
Một ngôi mộ nằm sau mộ của cô Tuyết


Alex giúp tôi nói chuyện với Yadi, người đứng ra đảm trách việc dọn dẹp chung quanh nghĩa trang và xây lại mộ cho cô Tuyết. Vì không có thời gian nên cách nhanh nhất là xây bằng xi măng, và dùng tấm bia của cô Tuyết khắc trên kim loại. Trong lúc đó thì mọi người trong nhóm đổ xô đi tìm thêm những ngôi mộ ở chung quanh, tìm được vài ngôi mộ khác nhưng không có bia hoặc là không còn đọc được tên.
.

Chúng tôi vội vã đi xuống núi trước khi trời tối, và quan trọng hơn nữa là Yadi phải về để lo vật dụng xây mộ cho ngày mai. Ngồi trên ghe đi về lại Letung, sau một ngày trời 3 lần trèo lên núi rồi lại leo xuống núi, ai nấy đều mệt nhoài, không còn hơi để nói, nhưng trong lòng mỗi người đầy ắp niềm vui. Cả ba gia đình đều tìm được mộ mà mình muốn tìm trong ngày đầu tiên, đây là một điều khó ngờ. Chúng tôi thầm cám ơn những sự phù hộ và tôn trọng sự linh thiêng của những người đã khuất. Tàu vừa cặp bến, đã thấy T & D đứng chờ chúng tôi từ bao giờ. Hai anh em sốt ruột vì phí gần một ngày, do không có người thông dịch, nên thợ thì tản mát, mà thầy thì không hiểu ý T&D muốn xây mộ như thế nào. Alex, tôi, T&D mất gần một tiếng để vẽ hình mộ muốn xây ra sao, mô tả, và điều đình cho hai ngôi mộ này xây kịp trước khi chúng tôi rời Letung. Mọi người đói meo, tôi vội vả chạy về nhà trọ tắm rửa xong lại đến điểm hẹn ăn cơm với tôm riêm, trứng chiên và canh chua cá (kiểu Indo). Đúng là đói bụng, ăn món nào cũng thấy ngon... Tối đến chúng tôi quây quần trước cửa phòng trọ ăn bánh trung thu và uống trà với vài người bạn Indo.
.
Xin theo đọc tiếp bài thứ hai, tiếp theo ...
.
by carinahoang
.

Friday, October 23, 2009

Wednesday, October 21, 2009

bịnh cũ của anh Phạm Việt Nam KT65 tái phát ... . by phamvietnam

.
.

.


ai biết thuốc chữa làm ơn cứu dùm anh ... khẩn cấp ... để lâu Chị Nam rất là buồn ...
.

z-pvn-DHKT5.jpg picture by tddesign
.
.
by phamvietnam
.

Tuesday, October 20, 2009

một mảnh đời nằm lại giữa đường đi tìm tự do, chuyện kể về một người Kiến Trúc nằm lại ở Galang, Indonesia

.
.


.
.
về những nhân vật Kiến Trúc Saigon đã khuất.
.
 



Ít hôm nay, không khí sôi động hơn chút về những chuyện đang xẩy ra khi tổ chức cho kỳ đại hội 5, Kiến Trúc SG họp mặt tại San Jose năm tới. Từ trước kỳ đại hội 3, năm 2004, tôi thường gửi những tờ email cho các anh chị em Kiến Trúc ở mọi nơi để cổ động cho mọi người tham dự thiệt đông, trao đổi những hình ảnh KT xưa và nay để tạo hiếu kỳ cho mọi người. Khi tham dự đại hội ở Houston, tôi có thất vọng nhỏ, ban tổ chức không dành chút thời gian, nhắc đến những anh chị em KT đã khuất bóng, ngay cả anh Mạnh xuân Phụng, một trong những người tổ chức ĐHKT kỳ 2, không còn nữa. Mà chỉ có giới thiệu nhau, giới thiệu con gái thầy Huỳnh kim Mãng đọc thư ban phép lành cho đại hội, chẳng nhắc thầy, như thầy Bùi quang Hanh, qúa cố sau khi dự đại hội kỳ 1, chẳng nhắc bạn KT đã qúa cố, không một lời, dù cho chương trình dài. Cho nên nên thấy thiếu cái tình người sống dành cho người chết, gần gũi nhất là những người cùng trường ĐHKT, theo như lễ nghĩa của người VN, xa hơn là những người đã hy sinh giữ tự do trong suốt mấy chục năm có cái trường ĐHKT SG để có bao nhiêu người được học hành xong, qua Mỹ thành công, vân vân …
.
 
Đó chỉ là một thiếu xót nhỏ, ngoài ra ĐHKT3 rất là công phu, ban tổ chức hy sinh rất nhiều thời gian và vật chất riêng tư để anh chị em KT mọi nơi có dịp gặp gỡ. Được mọi người tham dự cám ơn và ghi nhớ, ghi công ban tổ chức. Nhờ ĐH Houston, đã đặt khuôn mẫu trang trọng và qui mô, kế tiếp là đại hội 4 ở Tampa, thì ban tổ chức đã ghi nhận và đã có phút mặc niệm cho những người qúa cố rất xúc động.
 
.
 
 

Ở đây không phải vì anh của tôi là kts Hùng đã quá cố, mà tôi nói như vậy, có cả bao nhiêu anh chị em Kiến Trúc đã nằm xuống, cả bao triệu người VN nằm xuống trước ĐH kỳ 3 năm 2004.
.
 


Tiên học lễ là như vậy. Tôi có viết một bài dài về chuyện đó sau đại hôi gửi đi cho anh chị KT. Bây giờ không tìm thấy lại được. Lúc đó, cảm xúc và ghi nhận có khác hơn lúc này ngồi viết lại. Nói chung con người VN có căn bản cội nguồn, có sống có chết có tình nghĩa, nên kỳ đại hội 5 này sẽ cần có thêm phần chào quốc kỳ một cách trang trọng cho những anh chị em đang sống trên những mảnh đất tự do không CS.

.
 


một người bạn trẻ KT đến galang vào những ngày tháng cuối:
.
 



Trước đại hội KT kỳ rồi ở Tampa. Tôi có vào site của ĐH và từ đó vào site của Đặng Đình Thành KT77, ở geocities.com, viết về thời gian ở trại tị nạn, ghi nhận lại rất công phu, một hoàn cảnh lịch sử di dân vì tự do của dân tộc VN. Tôi đọc qua đọan viết về anh Nguyễn anh Cần, một kiến trúc năm KT68, anh là sĩ quan, đại úy Công Binh được biệt phái cho đi học kts tại ĐHKT SG. Lúc đó, những câu chuyện tị nạn, đưa tôi về những kỹ niệm riêng, nhiều năm trước đó tôi cũng là một người VN tị nạn chính trị, nằm chờ đi định cư ở trại tị nạn ở gần Tangjung Pinang, trên hòn đảo Bintan ngay kế bên Galang.
.



Gần đây, khi viết hồi ký về chuyến đi vượt biển của mình, tôi lại có dịp tìm những kỷ niệm từ Tangjung Pinang, tình cờ vào site của Carina Oanh Hoàng, đọc những câu chuyện cảm động ứa nước mắt, buồn bã và đau thương hơn chuyến đi của chúng tôi rất nhiều. lại tình cờ gặp lại Đặng đình Thành ở đây.
 
.
 
.
 


Mới đây anh Nguyễn hoàng Phố KT69, có nhắc chuyện anh Nguyễn anh Cần, người đã nằm lại ở Galang, đường tự do đi không đến đích, nhắc đến site của Thành. Hôm nay theo một vòng tròn đẩy đưa, gặp Hoàng thị Oanh Oanh, với những câu chuyện bi thương ngày xưa, và lòng bác ái, hào hiệp ngày nay của cô bé lúc 16 tuổi bước lên bờ bên đảo hoang vắng với hai người em bé nhỏ, trên hành trình tìm tự do, đến sự gặp mặt với Thành ở ĐHKT Tampa năm 2008, gặp anh Phố, một vòng tròn hội ngộ, mọi chuyện đều dính với nhau.
.
 


Hôm nay, nhắc lại một nhân vật Kiến Trúc đã nằm xuống, khi đang nửa đường đi tìm tự do, anh Nguyễn anh Cần KT68. Về tuổi đời trong trường KT, thì anh Cần lúc đó đã khá lớn, đã là đại úy sĩ quan công binh. Tôi chỉ nhớ anh đầu hớt tóc cao, vui vẻ, mang kiếng trắng cận, vậy thôi, học cùng lớp KT68 với Ng thị Hải, Ng thị Năng và anh Kiều công Long, Không nhớ là tôi có dịp nào nói chuyện với anh lâu hay không.
.
 


Hôm nay, trích lại câu chuyện tương ngộ của Đặng đình Thành KT77, và anh Nguyễn anh Cần KT68, qua một hoàn cảnh rất đặc biệt ở trại tị nạn Galang vào những năm cuối 1989 .. xin mời đọc bài dưới đây trong site của ĐĐT. Để biết về những ngày cuối của anh Cần.
.
 









.
.
 
z-dt-tampa-k79.jpg picture by tddesign
.
Đặng đình Thành KT77, Liễu và Thư KT79, hình tại Đại Hội Kiến Trúc Tampa, Florida, tháng sáu, 2008
.
 
 
 
Thôi thì, bài viết này  coi như món nợ trả cho anh C., tôi xin giữ lại những hình ảnh đẹp nhất cuả anh trong những ngày cùng làm việc ở Galang, và cuả chị Kh trong những ngày cơ cực ở Kuku vậy

.
 

thanh dang 
2007
.
.
mạn phép lấy bài của anh Thành đưa về đây.
.

Monday, October 19, 2009

Loạt bài hồi ký Cục Công Binh, bạn Kiến Trúc . bài 2ter . của anh Lâm công Quyền KT65 . by lamcongquyen

.

.
.

(tiếp theo kỳ trước)
.

Bạn KT- Cục Công Binh, về đến Sài Gòn (kỳ 2ter)
.

Những việc chưa hoàn tất:
.

Đi khỏi CR, có việc tôi chưa hoàn tất, đang dang dở chưa xong nhưng không luyến tiếc, có việc hài lòng và có những việc như một bài “hoà-tấu-khúc viết chưa xong” ̣(symphonie inachevée) vẫn còn đè nặng trong tâm tư:
.

Vét lòng vịnh Cam Ranh
.

Như đã nói trước đây, công việc cuối cùng tôi được giao phó tại Sở 5 Công Binh (trước tháng 8 năm 1974 nguyên là Khu Quân Sản Tạo Tác Nha Trang) là lập dự án vét lòng vịnh Cam Ranh, có tên “Cầu tàu, bãi ũi”, trước hết lo vét các nơi có tàu bè cập bến, song song vét đến các hải lộ dẫn đến các bến tàu đó rồi sau cùng mới hết cả vịnh.
.


Bán đảo Cam Ranh dài 34km, vịnh bề dài 16km, bề ngang 32km, cả hạm đội của Nga Hoàng năm 1904 đã vô đây nghỉ ngơi sau một lộ trình dài, đồng thời mua thêm lương thực và than đá trước khi lên đường trực chỉ biển Nhật Bổn để đánh nhau với Nhật, đến eo biển Đối Mã bị hạm đội dưới quyền chỉ huy của Đề Đốc Togo đánh chìm. Thế Chiến thứ 2, Nhật lại lấy làm căn cứ Hải Quân để đánh chiếm các nước vùng Đông-Nam-Á. Giữa những thời kỳ này, tuy Pháp không có hạm đội nhưng tàu chiến của HQ họ vẫn có mặt tại CR cho đến 1954. Từ thời điểm ấy cho đến 1965: VNCH, cùng năm đó người Mỹ đã ký khế ước thuê bán đảo 99 năm và vì Hiệp Định Paris, họ đã giao trả lại cho VNCH tháng Giêng năm 1973. Tôi phải nhắc lại dài giòng lịch sử để các bạn thấy cái nghịch lý khi tất cả các hạm đội vĩ đại đó lui tới vịnh này cùng cái tầm quan trọng của nó, bây giờ giao vào tay một tên Th/Úy CB quèn khờ dại 29 tuỗi lo nạo vét! Tôi cảm thấy không khác gì một con dã tràng trong cái vịnh to lớn này! Ngẫm nghĩ đến câu ca dao:
.

Dã tràng se cát biển Đông,
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cáng gì.

.
 
Thời gian xáo trộn cả miền Nam do lệnh của Tướng Đồng-Văn-Khuyên, TCT TCTV vào nửa năm sau 1974, tôi nhận nhiệm vụ này một cách tự nhiên như bất cứ dự án nào khàc, mặc dù chúng tôi đã được qua một khóa huấn luyện 6 tháng căn bãn CB về làm cầu, đường, trắc lượng, mìn bẫy...hoàn toàn không có môn nào thuộc về vét lòng sông hay biển, nhưng vẫn tháo vát theo thói quen học ở trường KT, trước nhất tìm tài liệu nghiên cứu: hải đồ, các loại tàu, cầu tàu...lập dự án, song song phải đi khảo sát tại chỗ, trước đó phải nhờ cấp trên liên lạc với bên Quân Vận để xin cấp phương tiện chuyên chở,  QV cũng là một ngành thuộc Tiếp Vận nên có rất nhiều tàu bè, họ cho biết ngày tháng và điểm hẹn ở cầu tàu số..., vịnh CR. Phòng Kỹ Thuật phái cho tôi một trắc-lượng-viên, anh Võ-Văn-Vinh, người bạn nhậu quen thuộc của tôi và BNHanh KT66, người đồng đội trong cuộc thi bơi 300m lúc trước*   .
.


Tôi và VVVinh đến nơi, hơi thất vọng vì trông thấy người lính QV đang chờ trên bờ, dưới cầu, chiếc “tàu” để đi khảo sát và đo chiều sâu đáy vịnh chẳng qua chỉ là một chiếc ca-nô nhỏ xíu với cái máy Evinrude sơn màu xanh QĐ sau đuôi! Tôi hỏi a. Vinh:
.

- Rồi anh lấy cái gì để đo độ sâu?_ Anh chỉ tôi cuồn dây đem theo, đầu dây buột chặt 1 hòn đá khá to.
- Từ nảy giờ tôi cứ tưởng anh sợ chìm tàu nên đem theo cuồn dây theo để cột cho an toàn!_Tôi nhìn thấy nụ cười gượng gạo của người trắc-lượng-viên gốc Quãng Bình cao lớn, trắng trẽo, luôn chải tóc theo kiễu Elvis Presley. Thật tội nghiệp người công chức QP làm sao, làm việc cho QĐ văn minh, tân tiến này, anh phải tự tháo vát chế ra dụng cụ đo độ sâu!
 
.
z-lcq-BarbeRouge.jpg picture by tddesign
.
thuyền trưởng hải tặc râu đỏ
.
 
.


Chúng tôi tất cả 3 người trèo lên ca-nô, người lính QV mở máy, từ từ cho ca-nô tách ra và đi theo chỗ chúng tôi chỉ, neo lại, VVV. thả dây xuống đến khi cục đá chạm đáy, rồi phăng lên, đếm từng gút dây đoạn đọc lên cho tôi ghi lên cái hải đồ in lại để khỏi làm hư bản chánh! Ngồi trên ca-nô, nhìn a. Vinh thả giây xuống rồi rút lên đếm từng gút, tôi cảm thấy tũi hổ cho QLVNCH quá chừng, cái máy SONAR dùng phương pháp dội âm để đo độ sâu và các chướng ngại vật kẻ cả tàu lặn địch được phát minh từ thời Đệ Nhị Thế Chiến, bây giờ là năm 1974, nhân viên của S5CB đang làm giống hệt truyện bằng tranh Bỉ Barbe Rouge * của Victor Hubinon miêu tả vào đầu thế kỷ 18, thủy thủ chỉ biết thả dây từ trên xuồng chèo để đo độ sâu trước khi cho tàu buồm hải tặc của họ vô vùng vịnh lạ. VVV. và tôi như vậy đã tốn không biết bao nhiêu ngày đội nắng cháy da và lênh đênh chung quanh mấy cầu tàu, đếm không biết bao nhiêu gút dây để ghi lên mấy tấm hải đồ đen đũi, lem luốt, hai tay VVV. dọp vì nước biễn...tôi nghĩ có đến hai con dã tràng trong vịnh đang lò dò khắp nơi, Tôi vẫn không hiểu nổi khả năng hiểu biết và làm việc của nhị vị trưởng ban, trưởng phòng của Phòng Kỹ Thuật, họ không hề biết rất nhiều tàu của HQ có trang bị sonar, mà chắc họ cũng không biết sonar là cái quái khỉ gì? Tôi có trình bày việc này “lên” họ trực tiếp nhưng họ cứ bình chân như vại, lè phè như mấy ông nhà quê nhàn rỗi đang ngồi tán dóc trong cái tháp ngà. Máy này đo độ sâu nhanh chóng và rất chính xác, trong khi đó đo độ sâu bằng dây thừng mất bao nhiêu ngày lại không chính xác, chỉ cần 5 phút nó đã có thể cho kết quả của vùng chung quanh 1 cái cầu tàu!
.
.
z-lcq-CamRanh_BaiUi.jpg picture by tddesign
.
bãi ủi cho tầu há mồm
.
 
.
 


Nhờ nghiên cứu tất cả các loại tàu kể cả tàu viễn dương trên 10 ngàn tấn, tàu chiến, tàu đổ bộ, tàu tuần duyên...tôi biết được các tàu mang chữ L (landing) như LCL, LCM, LCU… mà người bình dân miền Bắc lúc di cư gọi là “tầu há mồm”, thường thường dùng đổ bộ thẳng lên bờ, các chiếc nhỏ không có trang bị sonar, các tàu lớn hơn như tuần-dương-hạm, hải-dương-hạm, khu-trục-hạm..v..v..đều có trang bị sonar, các tàu nhỏ nhưng chạy nhanh mang chữ P (patrol) như PTF, PCF, PGM…cũng có trang bị sonar. Coi trong danh sách tàu, tôi thấy ghi “PTF: TỐI MẬT, không xử dụng tại vùng 2 duyên hải”, chỉ riêng chiếc Giang đỉnh làm tại HQ Công Xưởng, Sài Gòn bằng ferro-ciment nhại theo kiễu PCF, tôi không biết có trang bị thứ này hay không?.
 
.
 

.
z-lcq-CamRanh_CauTau-1.jpg picture by tddesign
 
.
cầu tầu tại Cam Ranh
.
 


Có người sau này hỏi sao tôi không than phiền thẳng với CHT? Xin thưa rằng chúng tôi vốn được huấn luyện như một robot, chỉ nhận lệnh cấp trên trực tiếp, thi hành trước, khiếu nại sau và không bao giờ được đi thẳng với CHT  trong công việc, vốn chân ướt chân ráo mới “tốt nghiệp” TBB Thủ Đức ra nên tôn trọng nguyên tắc của QĐ, đi ton hót là hành động của kẽ đê tiện, không phải của chúng tôi, Hanh, Lượng và vài Th/Úy mới đỗi ra CR. QV có rất nhiều tàu LCU và LCM có thể há mồm được để đổ bộ thẳng lên bãi cát nhưng không có sonar, còn đối với công tác tối ư quan trọng như vậy, Sở có thể nhờ cấp cao hơn liên lạc với cấp cao ngang hàng bên HQ để họ biệt phái cho bất cứ tàu nàu có trang bị sonar. Vét lòng vịnh không phải chỉ để tàu bè HQ ra vào dễ dàng mà thôi, tàu còn phải chở TQLC, quân cụ, vũ khí, đạn dược cho tất cả mọi binh chủng kể cả HQ, còn PCF không phải để một Th/Úy Sở 5 CB tưởng tượng dùng đổ bộ lên bờ Mũi Dinh cùng với trắc-lượng-viên, ước-lượng-viên, kèm theo cái chân 3 càng và máy Alidas (máy tachéomètre), giấy tờ, hồ sơ...lội bì bỏm từ 20m vào bờ, mỗi người một tay dìu ông Th/Úy không biết bơi, lên tới bờ xong ướt trũng, nếu ông Th/Úy này còn sống, còn phải lội bộ trên đường ngoằn nghoèo để leo lên đến Đài Kiễm Báo ở cao độ 450m*! Trong khi việc đó chỉ nhờ Tiểu Đoàn 63 CBCĐ thuộc Liên Đoàn 6 CBCĐ, có Bùi-Đình-Quang KT65*, đóng tại CR lái Jeep vào là xong ngay một cách dễ dàng!

Chờ không được nữa, tôi vẫn cứ tiến hành hồ sơ, tôi nói với VVVinh:
- Tôi thấy chung quanh các cầu tàu độ sâu không thay đổi nhiều, chúng ta không cần đi đo kiễu này nữa. Nếu họ không tin, họ cứ đi kiễm lại theo kiễu anh và tôi đã làm_ Đúng như tôi nói với anh Vinh, chẳng ai thèm kiễm soát vì không có cách kiễm soát nào trừ phi chịu đựng cực khổ như chúng tôi đã làm!
.
 
.
z-lcq-PCF_4.jpg picture by tddesign

.
PCF bị mắc cạn
.
 


Và nhân một dịp về phép thi, đã đem hồ sơ duyệt xong vào liên lạc với Cơ Quan Xáng Thị Nghè là nơi duy nhất tại VN có khả năng đào sông, vét biển! Việc liên lạc này đã làm tôi mất thêm vài tiếng đồng hồ quý báu*! Lần cuối cùng, CQX Thị Nghè đã gởi chuyên viên ra CR quan sát tại chỗ, tôi hết sức ngạc nhiên vì người chuyên viên này là một người Mỹ, không biết tiếng Việt! Tôi hướng dẫn ông ta vào chào Tr/Tá Sài*, đoạn bước qua phòng Kỹ Thuật chào trưởng phòng đồng thời yêu cầu đưa đi quan sát tận nơi các cầu tàu, Đ/Úy Ngữ trưởng phòng đã cùng với tôi lấy chiếc Jeep cao do anh Hạ sĩ Hào lái đưa người Mỹ đại diện Cơ Quan Xáng Thị Nghè đi quan sát tất cả các cầu tàu, bãi ũi trên bán đảo rồi mới đáo trở về Sở. Ngồi nơi băng sau với người Mỹ mới gặp lần đầu này thật ngại ngùng, chắc y cũng vậy, Đ/Úy Ngữ là một người đàn ông rất đẹp trai, tóc dợn sóng, da hồng hào như một người Mỹ nhưng ông chỉ im lặng , cười cười từ đầu chí cuối, bận về, nhìn thấy biển mênh mông bên tay phải, phản chiếu dưới trời nắng rất đẹp, tôi nói bâng quơ:
.

- Cái học như thể đại dương, chúng ta học không biết bao giờ cho hết được.
- Vâng, vâng, tôi đồng ý với anh, anh có lý lắm_người Mỹ nói.
.


Về đến nơi, Đ/Úy Ngữ nhờ tôi mời người chuyên viên Mỹ xuống câu-lạc-bộ Lan Khanh uống nước, ông Đ/Úy không nói tiếng Anh và người Mỹ này không nói tiếng Việt, cho nên không có gì để nói, khi cạn ly thì ông ta ra về. Dự án vét vịnh CR đã chấm dứt ngay lúc ấy vì sau đó tôi nhận được lệnh đổi về SG nên hoàn toàn không hiểu dự án này được tiếp nối ra sao. Như đã nói trong vài kỳ trước, trong QĐ, không có người này đã có người khác thay thế, tôi không mấy lo lắng, chỉ nghĩ đem một chiếc xáng kềng càng từ SG ra đến CR không phải là dễ, tất nhiên là được nhưng rất tốn kém, trong tình trạng Mỹ cắt viện trợ tôi không biết được rốt cuộc, dự án đó có được đem ra thực hiện hay không?
.

Trung Tướng Nguyễn-Văn-Toàn bị cách chức
.

Tháng 10/1974, vì quá mức tham nhũng, Tướng Toàn đã bị loại khỏi chức Tổng Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật, đó là tin vui nhất của tôi trước khi đổi đi. Quyết định này của TT Thiệu có hơi trể, ông Tướng này đã vơ vét không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, xương máu của lính, buôn lậu ma túy, cho lính đốn quế...  để trở thành giàu sụ và ăn uống đến nổi nức người ra. Khi dẫn lính ra Nha Trang dàn chào ông ta, đứng đầu hàng, ông ta đi ngang qua tôi không biết ông ta có trông thấy cặp mắt đổ lửa của tôi chăng, dù sao đi nửa tôi đã kềm chế được cái tính điên điên của tôi lúc đó là hạ một người để trả hận cho hàng ngàn người. Nhìn thấy hai cận vệ của ông mang súng ống kè ké, tôi bỏ ý định hạ ông bằng tay không!
.


Những việc còn dang dở
 
.


Có một thiếu nữ và một sinh vật thân yêu khi dọn về SG tôi không thể nào đem theo được, không cần phải nói, người đọc biết ngay đó là nàng Tiễu-Long-Nữ của tôi và con chó trung thành Milou.
 
.


Milou
 
.

Lúc mới ra đến đơn vị, Sở sắp cho tôi ở tạm nơi “Nhà vãng lai”, là một ngôi nhà nhỏ, hai bên là hai phòng ngủ khá rộng cùng phòng vệ sinh riêng cho mỗi phòng. Vì không có hàng quán ở bán đảo nên tuần lễ thứ nhì ra đến CR, cuối tuần tôi ra Nha Trang mua một cái bếp điện nhỏ, một nồi nấu cơm, một nồi để nấu canh và một cái chảo, sau đó tự đi chợ nấu cơm lấy. Mỗi khi về phép thi đều có đem ra vài món nấu sẵn và một lon Guigoz thịt chà bông. Một buỗi trưa Chúa Nhật đang chuẫn bị ăn thì khám phá thấy lon chà bông bắt đầu nổi mốc, tôi không có tủ lạnh, nhìn thấy bên ngoài trời nắng tốt nên đem lon Guigoz ra trước nhà phơi cho ráo. Một lúc sau ra, thấy lon chà bông vơi đi một khoảng, giận quá nghĩ ở đây chắc có thú vật hoang dã nào đó ăn lén. Nhìn chung quanh chợt thấy cái đầu một con chó đang núp sau góc nhà, tôi biết ngay nó là thủ phạm nên lượm một cục đá chạy ra chọi nó. Nó bỏ chạy ngoài tầm chọi của tôi rồi đứng nhìn lại, lúc ấy tôi mới nhìn thấy là một con berger Đức lưng đen và có bốn chân màu vàng, hai tai nhọn thẳng đứng, nó cứ đi vòng vòng và nhìn lại tôi chớ không bỏ chạy luôn.
.


Tôi đem lon Guigoz vô nhà và định đi ngủ trưa thì lại thấy nó vừa đi ngang trước vừa cửa nhìn vào, tôi đoán là con chó này đói, nên lui cui lấy cơm dư lúc nảy trộn tạm cho nó một chén, đem ra bên ngoài để đó và gọi nó bằng̀ cách tặc lưỡi: “tróc, tróc, tróc...”. Sau vài bước do dự, con berger đến ăn ngon lành. Độ vài hôm sau, tôi đã vổ được lên đầu và vuốt lên cái lưng khá gầy guộc của nó. Từ đó, cứ ngày hai buỗi, trưa và chiều tôi cứ cho nó ăn như vậy, lúc ấy không hề biết cách nuôi chó theo kiễu Bắc Mỹ, không cột dây, không có thức ăn làm sẵn cho chó ngoài chợ và không có dây dẫn. Tôi đi đâu thì nó cứ đi theo đó, vô Sở làm việc thì nó không giám theo, đi đâu đó vòng vòng, cứ trưa và chiều thì theo tôi về nhà.
 
.


Vốn tự tin vào cái đồng hồ tâm linh của mình nên tôi không bao giờ xử dụng đồng hồ reo báo thức, vào một sáng Thứ Hai, đang ngủ say sưa vì khuya qua nhậu đến 2,3giờ, thình lình Th/Úy Mai-Xuân-Lượng, kỹ sư CC, chạy ầm ầm vô (tôi ngủ không có khóa cửa) la lên:”Q.! bữa nay là sáng Thứ Hai, dậy chào cờ!” nói xong chạy mất. Thất kinh hồn vía, lập tức xỏ đồ lính vô, mang botte, chụp ngay cái nón sắt chỉ trong 30 giây (chúng tôi được huấn luyện điều này tại Thủ Đức) rồi chạy ngay ra sân cờ.

(còn tiếp)
.
______________________________________________________________________________________
 
 
.
 
chú thích:
.

* cuộc thi bơi 300m: xin xem HK_Bạn KT CR_kỳ 7
.

* Barbe Rouge:Thuyền trưởng hải tặc Râu Đỏ, tranh của Victor Hubinon, truyện của Jean-Michel Charlier.
.
* Đài Kiễm Báo ở cao độ 450m. HQ Mỹ đã làm đài radar này cao hơn hải đăng Mũi Dinh được người Pháp xây ở cao độ 300m.
.
 
* Bùi-Đình-Quang KT65, Tiểu Đoàn 63 CBCĐ: thỉnh thoảng ghé thăm tôi, trong HK_Bạn KT CR_kỳ 10

 
.
by lamcongquyen
.

Labels Loại Bài

Followers

About tmd.design

My photo
a place for architectural design and others ... more , viết truyện lẩm cẩm tào lao và nhiều nữa .. contact: tmd.design@yahoo.com
Powered by Blogger.